CÁC KỸ THUẬT CHẨN ĐOÁN HÌNH ẢNH VÀ VAI TRÒ TRONG CHẨN ĐOÁN ĐỘT QUỴ

CÁC KỸ THUẬT CHẨN ĐOÁN HÌNH ẢNH VÀ VAI TRÒ TRONG CHẨN ĐOÁN ĐỘT QUỴ

CÁC KỸ THUẬT CHẨN ĐOÁN HÌNH ẢNH VÀ VAI TRÒ TRONG CHẨN ĐOÁN ĐỘT QUỴ

CÁC KỸ THUẬT CHẨN ĐOÁN HÌNH ẢNH VÀ VAI TRÒ TRONG CHẨN ĐOÁN ĐỘT QUỴ

CÁC KỸ THUẬT CHẨN ĐOÁN HÌNH ẢNH VÀ VAI TRÒ TRONG CHẨN ĐOÁN ĐỘT QUỴ
CÁC KỸ THUẬT CHẨN ĐOÁN HÌNH ẢNH VÀ VAI TRÒ TRONG CHẨN ĐOÁN ĐỘT QUỴ
Menu
Trang chủ Kỹ thuật A3-KHOA NỘI THẦN KINH CÁC KỸ THUẬT CHẨN ĐOÁN HÌNH ẢNH VÀ VAI TRÒ TRONG CHẨN ĐOÁN ĐỘT QUỴ

CÁC KỸ THUẬT CHẨN ĐOÁN HÌNH ẢNH VÀ VAI TRÒ TRONG CHẨN ĐOÁN ĐỘT QUỴ

CÁC KỸ THUẬT CHẨN ĐOÁN HÌNH ẢNH

VÀ VAI TRÒ TRONG CHẨN ĐOÁN ĐỘT QUỴ

                                                   Bs. Nguyễn Thị Nhung Huyền – Khoa A3

        Các kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh sọ não giúp phát hiện các đặc điểm về kích thước, vị trí, phân bố mạch máu của sự nhồi máu, sự hiện diện của xuất huyết, mức độ trầm trọng của đột quỵ thiếu máu não và/ hoặc sự hiện diện của tắc các mạch máu lớn, tác động đến việc đưa ra quyết định điều trị ở thời điểm cấp cứu cũng như lâu dài. Các xét nghiệm chẩn đoán hình ảnh hiện đại có thể giúp biết được các thông tin về khả năng hồi phục của tổn thương thiếu máu, tình trạng mạch máu trong não (bao gồm vị trí và kích thước của vùng nhồi máu) cũng như tình trạng huyết động của não.

        Các kĩ thuật chẩn đoán hình ảnh trong chẩn đoán hình ảnh bao gồm:

  • Chẩn đoán hình ảnh nhu mô não: bao gồm CT Scan có và không có tiêm thuốc cản quang, MRI sọ não.

  • Chần đoán hình ảnh mạch máu trong sọ não: bao gồm chụp mạch cắt lớp vi tính, chụp cộng hưởng từ mạch máu, siêu âm Doppler và chụp mạch quy ước.

  • Chần đoán hình ảnh mạch máu ngoài sọ não: siêu âm Doppler mạch cảnh, chụp mạch cắt lớp vi tính, chụp mạch cộng hưởng từ mạch máu, chụp mạch quy ước.

  • Chụp cắt lớp vi tính và cộng hưởng từ tưới máu.

        1. Chẩn đoán hình ảnh nhu mô não

        a) Cắt lớp vi tính có hoặc không có tiêm thuốc cản quang sọ não

        NECT-CLVT không tiêm thuốc cản quang có vai trò chẩn đoán nhồi máu não và loại trừ xuất huyết nhu mô não nhằm đánh giá những tiêu chuẩn loại trừ của việc sử dụng rtPA tĩnh mạch như: giảm tỉ trọng lan rộng. NECT nhận diện chính xác hầu hết các trường hợp xuất huyết nội sọ và giúp phân biệt các nguyên nhân không do mạch máu của các triệu chứng thần kinh (ví dụ: u não). NECT có thể phát hiện các dấu hiệu tinh tế của tổn thương nhu mô trong vòng 3h đầu. NECT tương đối kém nhạy trong việc phát hiện các vùng nhồi máu nhỏ và cấp ở vỏ và dưới vỏ não, đặc biệt ở hố sọ sau.

        Các dấu hiệu của thiếu máu não trong vài giờ đầu sau khi khởi phát:

  • Mất phân biệt chất xám chất trắng.
  • Xóa mờ rãnh não.

        Dấu hiệu này xuất hiện nhanh chứng tỏ mức độ thiếu máu càng nặng. Tuy nhiên khả năng phát hiện những dấu hiệu này là khá thay đổi và thường ≤67% các trường hợp trong vòng 3 giờ. Khả năng phát hiện phụ thuộc vào kích thước nhồi máu, mức độ nặng của thiếu máu, và thời gian khởi phát triệu chứng đến lúc thực hiện kĩ thuật.

        Một dấu hiệu khác trên CT là tăng tỉ trọng của các động mạch bị tắc như dấu hiệu tăng tỉ trọng động mạch não giữa cho thấy tình trạng tắc một mạch máu lớn, biểu hiện tình trạng đột quỵ nặng. Tuy nhiên chỉ khoảng 1/3-1/2 trường hợp đã được chứng minh có nghẽn mạch khi chụp mạch.

        Một dấu hiệu khác trên CT là dấu chấm tăng tỉ trọng động mạch não giữa. Dấu hiệu này biểu hiện có cục máu đông trong một nhánh của động mạch não giữa và có thể là đối tượng tốt cho rtPA tĩnh mạch so với bệnh nhân có dấu tăng tỉ trọng động mạch não giữa.

        Sự hiện diện, mức độ rõ ràng và lan rộng các dấu hiệu sớm của thiếu máu và nhồi máu trên NECT có tương quan với việc tăng nguy cơ chuyển dạng xuất huyết sau điều trị với các thuốc tiêu sơi huyết. Biểu hiện của nhồi máu não lan rộng trên NECT đi kèm với tăng 8 lần nguy cơ xảy ra xuất huyết có triệu chứng sau sử dụng rtPA.

         b) MRI sọ não

        Các xung MRI cơ bản (T1, T2, FLAIR) tương đối không nhạy cảm với những thay đổi trong trường hợp thiếu máu cấp. Hình ảnh cộng hưởng từ khuếch tán (DWI) là kỹ thuật nhạy cảm và hiệu quả nhất đối với nhồi máu cấp, tốt hơn nhiều so với NECT và các kỹ thuật MRI khác. DWI cho phép xác định kích thước, vị trí và thời gian tổn thương. DWI có thể xác định các tổn thương tương đối nhỏ và sâu, hoặc dưới vỏ, bao gồm tổn thương ở hành não và tiểu não- những vùng thường khó khảo sát với MRI tiêu chuẩn và NECT. DWI có thể xác định được cả các tổn thương thiếu máu xung quanh chưa biểu hiện lâm sàng, thông qua đó gợi ý về cơ chế đột quỵ. Trong giai đoạn sớm, nhờ những dấu hiệu trên DWI, vẫn có thể thấy vùng nhồi máu không thể hồi phục so với biểu hiện thay đổi hệ số khuếch tán nhiều hơn, và cả vùng tranh sáng tranh tối có thể hồi phục với ít thay đổi hệ số khuếch tán hơn.

        Dấu hiệu động mạch nhạy cảm trên cộng hưởng từ tương đương với dấu động mạch tăng tỉ trọng trên NECT. Dấu hiệu động mạch tăng tín hiệu trên FLAIR có thể gợi ý dòng máu chậm qua tuần hoàn phụ màng mềm- màng nhện.

        MRI cổ điển nhạy hơn NECT tiêu chuẩn trong việc xác định tổn thương mới và tổn thương tồn tại trước đó ở bệnh nhân TIA( theo định nghĩa 24h).

        Biểu hiện xuất huyết trên MRI phụ thuộc vào thời gian máu chảy và chuỗi xung sử dụng. Hai nghiên cứu thuần tập chứng minh rằng, khi sử dụng chuỗi xung gradient echo, MRI có độ chính xác như là NECT trong việc xác định chảy máu nhu mô tối cấp ở bệnh nhân có triệu chứng đột quỵ trong 6h đầu. Theo đó, MRI có thể sử dụng như là một chẩn đoán ban đầu trong đánh giá bệnh nhân đột quỵ, cũng như cần xác định bệnh nhân nào nên điều trị tiêu sợi huyết. Xung gradient echo cũng có khả năng phát hiện các vi xuất huyết không triệu chứng trước đó mà không biểu hiện trên NECT.

        Tóm lại, so sánh với CT trong hình ảnh nhu mô, MRI có ưu điểm hơn là có khả năng phân biệt nhồi máu cấp, các nhồi máu nhỏ- sâu dưới vỏ, hay ở hố sọ sau; phân biệt thiếu máu cấp và mãn; xác định được các tổn thương xung quanh để tìm cơ chế đột quỵ, tránh nhiễm xạ, có độ phân giải không gian tốt hơn. MRI cũng có một vài hạn chế: giá thành cao, thường không sẵn có, có thời gian thực hiện dài và có mốt số chống chỉ định như chứng sợ không gian kín, đặt máy tạo nhịp, bệnh nhân không tỉnh táo hoặc có thiết bị kim loại, bệnh nhân không thể nằm im.

        2. Hình ảnh mạch máu nội sọ

        a) Chụp mạch cắt lớp vi tính(CTA)

        Độ chính xác của CTA trong việc đánh giá sự hẹp hoặc tắc của động mạch lớn nội sọ rất cao. Và trong một số trường hợp, độ chính xác gần bằng với DSA( chụp mạch số hóa xóa nền). Trong xác định tắc nghẽn mạch máu nội sọ, độ nhạy và độ đặc hiệu của CTA lần lượt là 92-100%.

        b) Cộng hưởng từ mạch máu

        Kĩ thuật này được thực hiện cùng với MRI sọ não trong trường hợp nhồi máu não cấp nhằm đưa ra quyết định điều trị phù hợp. MRA sử dụng kĩ thuật TOF hữu ích trong việc xác định tắc nghẽn động mạch lớn đoạn gần nhưng không thể xác định chính xác trong trường hợp tắc động mạch xa và nhánh của nó.

        c) Doppler xuyên sọ

        Thường được dùng để phát hiện những bất thường của mạch máu nội sọ ( bao gồm cả hẹp lòng mạch và tắc nghẽn). Độ chính xác của Doppler xuyên sọ ít so sánh được với CTA và MRA trong các trường hợp hẹp- tắc. Độ nhạy và độ đặc hiệu của kỹ thuật này lần lượt là 55-90% và 90-95%.

        d) Chụp mạch quy ước

        DSA vẫn là tiêu chuẩn vàng để xác định các dạng tổn thương mạch não và bệnh lí. Ký thuật can thiệp có thể gây ra các biến chứng nghiêm trọng như đột quỵ và tử vong.

        3. Hình ảnh mạch máu ngoài sọ

        a) Siêu âm Doppler mạch cảnh

        Siêu âm Doppler mạch cảnh là kỹ thuật an toàn và giá thành thấp cho hình ảnh vị trí phân đôi của động mạch cảnh và đánh giá vận tốc chảy máu. Độ nhạy và độ đặc hiệu của siêu âm Doppler động mạch cảnh trong việc phát hiện tổn thương >70%, ít hơn các kỹ thuật khác( khoảng 83-86% đối với độ nhạy và 87-99% đối với độ đặc hiệu). Kĩ thuật này cũng có khả năng hạn chế khi khảo sát hình ảnh mạch máu ngoài sọ ở gần hoặc xa chỗ chia đôi.

        b) Cắt lớp vi tính mạch máu

        Cắt lớp vi tính mạch máu là một kĩ thuật nhạy, đặc hiệu và chính xác trong chẩn đoán hình ảnh mạch máu ngoài sọ. CTA tốt hơn nhiều so với siêu âm Doppler trong việc tắc với hẹp động mạch cảnh. Nó được xem như một xét nghiệm sàng lọc với độ nhạy >90%, độ đặc hiệu >95% để phát hiện các tổn thương có ý nghĩa so với DSA.

        c) Cộng hưởng từ mạch máu

        Hình ảnh 2D hoặc 3D của kỹ thuật TOF MRA được sử dụng để phát hiện bệnh lý động mạch cảnh ngoài sọ với độ nhạy 93% và độ đặc hiệu 88%. MRA có tiêm thuốc cản từ chính xác hơn MRA TOF không tiêm thuốc.MRA có tiêm thuốc cản từ chính xác hơn MRI TOF không tiêm thuốc. MRA có tiêm thuốc cản từ có thể làm tăng khả năng phát hiện bóc tách động mạch cảnh và động mạch đốt sống. MRI xung T1 không tiêm thuốc kỹ thuật FAT-Saturation có thể phát hiện các tụ máu bán cấp trong thành động mạch gợi ý bóc tách gần đây.

        d) DSA

        DSA vẫn còn là kĩ thuật cung cấp nhiều thông tin nhất về hình ảnh của động mạch cảnh và động mạch đốt sống, đặc biệt khi đưa ra quyết định can thiệp. Ngoài cung cấp những thông tin về tổn thương tại động mạch, DSA còn cho biết thông tin về dòng chảy phụ, tình trạng tưới máu và các tổn thương ẩn khác có thể ảnh hưởng đến điều trị.

        e) MRI và CT tưới máu

        Vùng tranh tối tranh sáng là mục tiêu lí tưởng của các liệu pháp tái tưới máu và các tác nhân bảo vệ não, vùng này có thể được phác họa bởi các kỹ thuật hình ảnh tưới máu. Tuy nhiên trong giai đoạn cấp của đột quỵ cần cân bằng giữa lợi ích mà những thông tin của xét nghiệm này mang lại và thời gian cần thiết để thực hiện. Vì vậy, khi thực hiện các xét nghiệm này không nên trì hoãn quá mức việc sử dụng rtPA của cửa sổ ≤4,5h ở bệnh nhân thích hợp.

        Kỹ thuật hình ảnh chẩn đoán tưới máu não cung cấp thông tin về huyết động của vùng não dưới dạng các thông số như dòng chảy máu não, lưu lượng máu não và thời gian vượt qua trung bình. Kết hợp các chẩn đoán hình ảnh nhu mô khác giúp phác họa được vùng tranh tối tranh sáng. Ngoài ra nó cũng chỉ ra những vùng nhồi máu nặng và có thể phục hồi được.

 

backtop