Choáng váng là một triệu chứng rất mơ hồ thường được sử dụng để mô tả nhiều cảm giác khác nhau bao gồm: chóng mặt (xoay tròn), tiền ngất ( ngất sắp xảy ra), mất thăng bằng và lâng lâng. Choáng váng rất khó xác định vì tính chủ quan, triệu chứng không chỉ

Choáng váng là một triệu chứng rất mơ hồ thường được sử dụng để mô tả nhiều cảm giác khác nhau bao gồm: chóng mặt (xoay tròn), tiền ngất ( ngất sắp xảy ra), mất thăng bằng và lâng lâng. Choáng váng rất khó xác định vì tính chủ quan, triệu chứng không chỉ

Choáng váng là một triệu chứng rất mơ hồ thường được sử dụng để mô tả nhiều cảm giác khác nhau bao gồm: chóng mặt (xoay tròn), tiền ngất ( ngất sắp xảy ra), mất thăng bằng và lâng lâng. Choáng váng rất khó xác định vì tính chủ quan, triệu chứng không chỉ

Choáng váng là một triệu chứng rất mơ hồ thường được sử dụng để mô tả nhiều cảm giác khác nhau bao gồm: chóng mặt (xoay tròn), tiền ngất ( ngất sắp xảy ra), mất thăng bằng và lâng lâng. Choáng váng rất khó xác định vì tính chủ quan, triệu chứng không chỉ

Choáng váng là một triệu chứng rất mơ hồ thường được sử dụng để mô tả nhiều cảm giác khác nhau bao gồm: chóng mặt (xoay tròn), tiền ngất ( ngất sắp xảy ra), mất thăng bằng và lâng lâng. Choáng váng rất khó xác định vì tính chủ quan, triệu chứng không chỉ
Choáng váng là một triệu chứng rất mơ hồ thường được sử dụng để mô tả nhiều cảm giác khác nhau bao gồm: chóng mặt (xoay tròn), tiền ngất ( ngất sắp xảy ra), mất thăng bằng và lâng lâng. Choáng váng rất khó xác định vì tính chủ quan, triệu chứng không chỉ
Menu
Trang chủ Kỹ thuật A3-KHOA NỘI THẦN KINH CHOÁNG VÁNG VÀ CHÓNG MẶT

CHOÁNG VÁNG VÀ CHÓNG MẶT

CHOÁNG VÁNG VÀ CHÓNG MẶT

Choáng váng là một triệu chứng rất mơ hồ thường được sử dụng để mô tả nhiều cảm giác khác nhau bao gồm: chóng mặt (xoay tròn), tiền ngất ( ngất sắp xảy ra), mất thăng bằng và lâng lâng. Choáng váng rất khó xác định vì tính chủ quan, triệu chứng không chỉ dành riêng cho hệ thống tiền đình mà còn nhiều tổn thương thần kinh khác. Thường chia làm 2 nhóm nguyên nhân chính: tiền đình ngoại biên và tiền đình trung ương.

I. Nguyên nhân tiền đình ngoại biên

Nguyên nhân chóng mặt phát sinh từ những bất thường các ống bán khuyên, soan nang, cầu nang và dây thần kinh tiền đình.  Triệu chứng lâm sàng riêng biệt nhưng thường trùng lấp, chiếm 80% các trường hợp chóng mặt. Các nguyên nhân thường gặp là chóng mặt tư thế kịch phát lành tính, viêm dây thần kinh tiền đình và bệnh Meniere.

1. Chóng mặt tư thế kịch phát lành tính

Chóng mặt tư thế kịch phát lành tính xảy ra khi sỏi tai thoát ra ngoài và di chuyển, còn gọi là sỏi ống bán khuyển, sỏi bị bong ra và đi vào ống bán khuyên, thường là ống sau. CMTTKPLT có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, phổ biến nhất từ 50 đến 70 tuổi. Không tìm thấy nguyên nhân rõ ràng trong 50 đến 70% lứa tuổi, chấn thương đầu thường gặp ở người trẻ tuổi.

Lâm sàng xuất hiện cơn chóng mặt kéo dài một phút hoặc ít hơn, cơn được kích thích bởi chuyển động đầu cụ thể, chẳng hặn như nhìn lên trong khi đứng hoặc ngồi dậy khỏi giường, lăn trên giường. Các cơn chóng  mặt có thể kèm theo buồn nôn hoặc nôn, khoảng một nửa bệnh nhân mất thăng bằng giữa các đợt tấn công. Các đợt tái phát trong vài tuần đến vài tháng, trung bình hai tuần. Chẩn đoán dựa vào bệnh sử và test Dix-Hallpike có thời gian tiền chóng mặt và giật nhãn cầu dưới 30s, giật nhãn cầu xoắn hướng lên, khi ngồi lên hoặc đánh hướng ngược lại.

2. Viêm dây thần kinh tiền đình

Viêm dây thần kinh tiền đình được coi là có nguồn gốc siêu vi trùng, nguyên nhân đứng thứ hai của chóng mặt. Thường gặp từ 30 đến 50 tuổi, nam và nữ bị ảnh hưởng như nhau.

Chẩn đoán dựa trên bệnh sử và thăm khám thực thể, lâm sàng bệnh nhân chóng mặt  kiểu quay nặng, nôn ói và dao động thị giác. Giật nhãn cầu xoay ngang tự phát về đối bên tổn thương, dáng đi bất thường bên tổn thương, thính giác không bị ảnh hưởng. Chóng mặt giảm trong vài ngày khi có bù trừ tiền đình, 50% bệnh nhân khỏi sau 2 tháng. Tuy nhiên chóng mặt tồn tại trong vài tháng vì tổn thương chức năng tiền đình 1 bên. Chóng mặt có thể tái phát, nếu không giảm cần xem xét chẩn đoán khác.

3. Bệnh Meniere

Bệnh Meniere gây chóng mặt và giảm thính giác một bên. Mặc dù có thể gặp ở mọi lứa tuổi nhưng phổ biến từ 20 đến 60 tuổi. Chóng mặt tự phát kéo dài vài phút đến vài giờ, thường nặng bệnh nhân  phải nghỉ ngơi tại giường, buồn nôn, nôn, kết hợp ù tai một bên, giảm thính giác và đầy tai. Các triệu chứng khác bao gồm ngã đột ngột, đau đầu với giảm thính giác xấu hơn trong các đợt tấn công kế tiếp. Bệnh nhân giật nhãn cầu xoay ngang một bên trong cơn chóng mặt.

Bệnh sinh do áp lực nội dịch ở tai trong tăng quá mức dẫn đến rối loạn  chức năng. Tuy nhiên nguyên nhân chính xác vẫn chưa được biết. Chẩn đoán dựa trên bệnh sử, thăm khám có điếc thần kinh tần số thấp, giảm đáp ứng tiền đình một bên. Các đợt cấp của bệnh kéo dài trong nhiều tháng hoặc nhiều năm. Bệnh có thể thuyên giảm một cách tự nhiên hoặc do điều trị và tái phát.

II. Nguyên nhân tiền đình trung ương

Bất thường ở nhân tiền đình, tiểu não, thân não và vỏ não  tiền đình chiếm khoảng 20% chóng mặt. Nguyên nhân thường gặp là migraine tiền đình và thiếu máu do hẹp động mạch sống nền. Bệnh nhân biểu hiện mất thăng bằng và thất điều nhiều hơn chóng mặt thật sự. Tuy nhiên, chóng mặt có thể là triệu chứng báo hiệu một số biến cố mạch máu não sắp xảy ra.

Hội chứng tiền đình cấp trung ương (ví dụ: đột quỵ hố sau) gây tử vong, có thể không có dấu hiệu thần kinh khu trú, lâm sàng thường nhầm lẫn với căn nguyên ngoại biên lành tính. Chụp cắt lớp vi tính không đủ độ nhạy để phân biệt đột quỵ. Test HINTS rất nhạy và đặc hiệu trong việc xác định đột    quỵ ở bệnh nhân có hội chứng tiền đình cấp, vượt trội hơn so với hình ảnh cộng hưởng từ khuếch tán.

1. Migraine tiền đình

Đau nửa đầu ngày càng được công nhận là nguyên nhân gây ra chóng mặt tái phát. Tuy nhiên cơ chế đau nửa đầu gây ra chóng mặt vẫn chưa rõ. Mức độ nghiêm trọng và thời gian của chóng mặt cũng rất khác nhau. Một số triệu chứng thoáng qua, kéo dài vài giây, đặc trưng của chóng mặt tư thế kịch phát lành tính, điển hình hơn cơn kéo dài vài phút đến vài giờ. Thường gặp ở phụ nữ, gấp ba lần nam giới và tuổi từ 20 đến 50 tuổi. Tiền sử gia đình là một yếu tố nguy cơ.

Chẩn đoán dựa vào bệnh sử, trong đó ít nhất một cơn chóng mặt với đau nửa đầu hoặc có tiền triệu sợ ánh sáng, sợ âm thanh. Các cơn chóng mặt thường xảy ra một cách tự nhiên, tương tự như đau nửa đầu, có thể kích hoạt bởi một số loại thực phẩm và một số tình huống nhất định.

2. Thiếu máu do hẹp động mạch sống nền

Cung cấp máu cho thân não, tiểu não và tai trong có nguồn gốc từ động mạch sống nền. Bất kỳ sự tắc nghẽn nhánh lớn nào đều có thể xảy ra chóng mặt. Chẩn đoán dựa vào bệnh sử và các triệu chứng ở thân não , như nhìn đôi nói khó, yếu hoặc vùng về chân tay. Chóng mặt là triệu chứng đầu tiên ở 48% bệnh nhân, ít hơn phân nửa có dấu thần kinh khu trú.

Thiếu máu thân não: xơ vữa, thuyên tắc động mạch sống nền gây thiếu  máu thân não. Chóng mặt có thể chiếm ưu thế nhưng hiếm khi là biểu hiện duy nhất của thiếu máu thân não. Một số trường hợp được mô tả chỉ ảnh hưởng đến cấu trúc tiền đình, các biểu hiện lâm sàng rất giống với viêm dây thần kinh tiền đình. Nguy cơ đột quỵ tái phát cao và có thể giảm nếu can thiệp thích hợp.

Cơn thiếu máu thoáng qua (TIA): cơn thiếu máu thoáng qua liên quan đến thân não thường kéo dài vài phút đến vài giờ. Chóng mặt không có triệu chứng thân não xảy ra với thiếu máu động mạch sống nền vẫn còn tranh cãi.

Hội chứng động mạch sống xoay: là thiểu năng sống nền có triệu chứng hiếm gặp do tắc hoặc hẹp cơ học động mạch sống trong quá trình xoay hoặc duỗi đầu và cổ. Các triệu chứng từ chóng mặt thoáng qua cho đến đột quỵ tuần hoàn sau. Bệnh sinh do chèn ép động mạch sống bởi bất thường các cấu trúc như gai xương, thoát vị đĩa đệm, thoái hóa cột sống cổ hoặc khối u.

3. Các hội chứng đột quỵ khác

Nhồi máu mê đạo có thể xảy ra khi tắc động mạch thính giác trong, một nhánh của động mạch tiểu não trước. Đây là một tổn thương của hệ thống tiền đình và đặc trưng chóng mặt đột ngột, mất thính giác, đôi khi ù tai

Sự tắc nghẽn của động mạch tiểu não trước trên liên quan đến cầu não bên và cuống tiểu não, gây ra chứng thất điều dáng đi và chi,  liệt mặt, chóng mặt và mất thính giác.

Hội chứng Wallenberg (nhồi máu hành não bên) kết hợp khởi phát chóng mặt cấp và mất thăng bằng. Việc cung cấp máu cho hành não bên do động mạch tiểu não dưới sau. Hầu hết các bệnh nhân mắc hội chứng Wallenberg đều bị tắc động mạch sống cùng bên nơi xuất phát động mạch tiểu não dưới sau.

4. Nhồi máu và xuất huyết tiểu não

Nhồi máu và xuất huyết tiểu não thường xảy ra ở bệnh nhân lớn tuổi (> 60 tuổi) có yếu tố nguy cơ mạch máu, đặc biệt là tăng huyết áp và đái tháo đường. Lâm sàng thường chóng mặt đột ngột dữ dội kèm theo buồn nôn và nôn, khó phân biệt với tổn thương tiền đình ngoại biên. Thất điều chi gợi ý tổn thương tiểu não, bệnh nhân ngã về bên tổn thương.

5. Xơ cứng bì rải rác (Multiple sclerosis)

Chóng mặt ước tính xảy ra ở 20% bệnh nhân MS, triệu chứng tương tự viêm dây thần kinh tiền đình, chóng mặt ngoại biên kéo dài kết hợp với tăng hoặc giảm thính lực, tê mặt, nhìn đôi. Trong tổn thương tiểu não chóng mặt thường cấp, kiểu trung ương. Chẩn đoán gợi ý bao gồm các triệu chứng thần kinh trước đó và bất thường khi thăm khám.

6. Tâm thần

Rối loạn tâm thần như trầm cảm nặng, lo âu hoặc rối loạn hoảng sợ có thể là nguyên nhân chính gây chóng mặt không điển hình ở một số bệnh nhân. Đôi khi liên quan đến tăng thông khí, thường xảy ra trong tình trạng căng thẳng nhẹ. Chóng mặt đi kèm với tăng thông khí lo âu hoặc trầm cảm tăng dần dần, lúc thịnh lúc suy khoảng 20 phút hoặc lâu hơn và khỏi dần. Bệnh nhân không có triệu chứng có cảm giác thiếu không khí vì chỉ thở nhanh ở mức độ nhẹ. Các cơn hạ đường huyết cũng có thể tạo ra một cảm giác chóng mặt không điển hình.

 

backtop