Hội Chứng Chân không yên - Bệnh Viện Quân y 7A

Hội Chứng Chân không yên - Bệnh Viện Quân y 7A

Hội Chứng Chân không yên - Bệnh Viện Quân y 7A

Hội Chứng Chân không yên - Bệnh Viện Quân y 7A

Hội Chứng Chân không yên - Bệnh Viện Quân y 7A
Hội Chứng Chân không yên - Bệnh Viện Quân y 7A
Menu
Trang chủ Kỹ thuật A3-KHOA NỘI THẦN KINH Hội Chứng Chân không yên

Hội Chứng Chân không yên

HỘI CHỨNG CHÂN KHÔNG YÊN

(Dẫn nguồn tài liệu PGS.TS.BS NGUYỄN HỮU CÔNG)

 

Sơ Lược Lịch Sử Hội Chứng Chân Không Yên

Tiếng Anh gọi là Restless Legs Syndrome, viết tắt là RLS. Người đầu tiên mô tả bệnh này là một bác sĩ người Thụy Điển tên là Karl – Axel Ekbom. Nhưng trước đó từ năm 1672 đã có một thầy thuốc người Anh là Thomas Willis mô tả biểu hiện của chứng bệnh này. Bệnh nhân có nhu cầu cử động một phần cơ thể, nhu cầu này không thể cưỡng lại được, nếu để yên sẽ có cảm giác nhức mỏi, buồn bực, kiến bò, châm chích…sâu trong cơ bắp rất khó chịu. Bệnh thông thường biểu hiện ở chân nhưng cũng có thể ở tay hoặc thân mình, cử động giúp cho bệnh nhân tạm thời cảm thấy dễ chịu.

          Hội chứng chân không yên là bệnh rối loạn vận động rất hay gặp , chiếm khoảng 8 – 10% dân số người da trắng, và khoảng 5% người Châu Á. Bệnh hay gặp ở người già, đôi khi được mô tả là “đau nhức”, “nhức mỏi” về ban đêm. Dù tên gọi là “chân không yên”, nhưng nhiều trường hợp bị cả những phần khác của cơ thể. Có một số trường hợp bệnh nhân lớn tuổi không thể ngồi yên hay nằm yên được, phải đi lại liên tục, dẫn đến tình trạng mất ngủ, thiếu ngủ, suy nhược thần kinh, thậm chí chấn thương do ngã. Ở phòng khám nội thần kinh Bệnh viện Quân y 7A, chúng tôi ghi  nhận một số trường hợp có biểu hiện trầm cảm do mắc hội chứng chân không yên trong thời gian dài.

          Đây là bệnh không nguy hiểm tính mạng, nhưng đôi khi ảnh hưởng rất nhiều tới chất lượng cuộc sống, và ảnh hưởng tới cả người thân trong gia đình.

 

  II. Nguyên nhân của bệnh

          Các nhà khoa học cho rằng nguyên nhân của bệnh là thiếu hụt chất Dopamin trong một khu vực của não, cơ thể bị thiếu sắt, yếu tố di truyền. Tuy nhiên, nhiều khi bệnh xuất hiện mà không tìm được nguyên nhân. Người ta cũng thấy là chứng bệnh này có yếu tố di truyền rất rõ ràng, ngày nay khoa học đã chứng minh là có 4 gen có liên quan tới RLS.

Người ta chia chứng chân không yên ra làm 2 nhóm: Nguyên phát và thứ phát. Chứng chân không yên nguyên phát có tính chất gia đình (ông bà bị, thì con cháu dễ bị hơn). Chứng chân không yên thứ phát thường gặp nhất là do thiếu sắt, thiếu sắt có thể liên quan hoặc không liên quan đến thiếu máu. Phụ nữ có thai và bệnh nhân suy thận giai đoạn cuối cũng dễ bị mắc chứng bệnh này.

Nguyên nhân ít gặp hơn là bệnh tủy, bệnh dạ dày, tiểu đường, bệnh lý khớp.

Một số bệnh có liên quan chặt chẽ với chứng chân không yên là: Bệnh Parkinson, chứng run nguyên phát, thất điều di truyền, bệnh dây thần kinh, bệnh của tủy sống….

 

III. Chẩn Đoán Bệnh Chân Không Yên

Một số tiêu chuẩn chẩn đoán hội chứng chân không yên:

1. Có cảm giác bất thường ở bên trong bắp thịt của chân (đôi khi cả tay nữa), làm cho bệnh nhân cảm thấy phải cử động chân hoặc tay mới chịu được.

2. Cảm giác bất thường nặng lên khi nghỉ ngơi.

3. Giảm đỡ khi cử động hoặc đi lại.

4. Biểu hiện nặng lên về chiều tối hoặc đêm

Cảm giác bất thường là cảm giác khó chịu chung chung, có khi như kiến bò, giun bò, châm chích ở bên trong bắp thịt của chân tay, làm cho bệnh nhân phải co duỗi chân tay, gồng bắp thịt, xoa bóp hoặc đập đập vào bắp thịt. Do cảm giác khó chịu đó, bệnh nhân phải thường xuyên cử động chân hoặc cả tay khi nằm ngủ. Tạo nên một hiện tượng gọi là “cử động chân theo chu kỳ trong khi ngủ” (Periodic leg movements of sleep – PLMS). Người ta có thể dùng máy để ghi các cử động khi ngủ của người bệnh, giúp cho chẩn đoán chính xác hơn.

 

IV. Tác Hại Của Bệnh Chân Không Yên

Chứng chân không yên nếu không được điều trị tốt, sẽ ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống và công việc. Bệnh nhân bị mất ngủ, ban ngày có thể bị ngủ gà gật. Có thể bị trầm cảm, mệt mỏi, mất tập trung chú ý.

 

V. Điều Trị

Chứng chân không yên là một bệnh rất hay gặp nhưng lại điều trị được, cách điều trị phụ thuộc vào mức độ nặng hay nhẹ của bệnh.

Nếu bệnh ở mức độ nhẹ, có thể áp dụng những biện pháp sau đây, mà không cần dùng thuốc:

- Đi bộ, đi bơi hoặc làm động tác căng kéo bắp thịt; tắm nước nóng hoặc nước lạnh, tập thuyền hoặc yoga, massage vùng chân hoặc tay bị bệnh.

- Đi ngủ đều đặn theo một giờ nhất định, khi đi ngủ đừng đọc sách báo, xem tivi hoặc làm việc trên giường. Trước khi đi ngủ phải tránh: Tranh thủ ngủ chợp mắt trước đó, tỉnh dậy một lúc rồi mới đi vào giấc ngủ chính; tránh uống trà, cà phê hoặc rượu trước khi đi ngủ.

- Không dùng thuốc lợi tiểu trước khi đi ngủ.

Một số thuốc có thể làm cho bệnh nặng lên: Thuốc chống trầm cảm (đặc biệt là amytriptyline liều cao), thuốc hạ huyết áp loại ức chế canxi, các thuốc chữa chóng mặt nôn ói, phenytoin.

Nếu bệnh đã ở mức trung bình hoặc nặng, thì phải dùng thuốc để điều trị. Sau đây là một số thứ thuốc được các bác sĩ hay dùng:

- Levodopa có tác dụng rất tốt, nhưng do tác dụng phụ lâu dài của nó, nên các bác sĩ hạn chế dùng.

- Các thuốc đồng vận dopamine là những thuốc hàng đầu để điều trị, bao gồm những thuốc được cho phép sử dụng tại Hoa Kỳ là: pramipexole, ropinirole, rotigotine. Tại Việt nam hiện tại mới có pramipexole được phép lưu hành.

- Các thuốc khác: Thuốc chống động kinh (gabapentin, carbamazepine), thuốc an thần loại benzodiazepines (clonazepam, nitrazepam), nhóm thuốc á phiện (oxycodone, propoxyphene, methadone). Một số nhóm thuốc khác như clonidine, propranolol.

- Bổ sung sắt nếu nồng độ ferritin trong máu bị thấp.

backtop