Kỹ thuật đặt Catheter tĩnh mạch trung tâm dưới hướng dẫn của siêu âm - Bệnh Viện Quân y 7A

Kỹ thuật đặt Catheter tĩnh mạch trung tâm dưới hướng dẫn của siêu âm - Bệnh Viện Quân y 7A

Kỹ thuật đặt Catheter tĩnh mạch trung tâm dưới hướng dẫn của siêu âm - Bệnh Viện Quân y 7A

Kỹ thuật đặt Catheter tĩnh mạch trung tâm dưới hướng dẫn của siêu âm - Bệnh Viện Quân y 7A

Kỹ thuật đặt Catheter tĩnh mạch trung tâm dưới hướng dẫn của siêu âm - Bệnh Viện Quân y 7A
Kỹ thuật đặt Catheter tĩnh mạch trung tâm dưới hướng dẫn của siêu âm - Bệnh Viện Quân y 7A
Menu
Trang chủ Kỹ thuật KHOA HỒI SỨC CẤP CỨU Kỹ thuật đặt Catheter tĩnh mạch trung tâm dưới hướng dẫn của siêu âm

Kỹ thuật đặt Catheter tĩnh mạch trung tâm dưới hướng dẫn của siêu âm

KỸ THUẬT ĐẶT CATHETER TĨNH MẠCH TRUNG TÂM DƯỚI HƯỚNG DẪN CỦA SIÊU ÂM

Bs. Hồ Minh Nghĩa- Khoa HSCC

I. ĐỊNH NGHĨA

Đặt catheter tĩnh mạch trung tâm là thủ thuật cơ bản trong hồi sức cấp cứu bằng cách đưa ống thông có 2 nòng qua da vào tĩnh mạch lớn (như tĩnh mạch cảnh trong, tĩnh mạch dưới đòn, tĩnh mạch đùi). Tuy nhiên kỹ thuật này phụ thuộc nhiều vào kinh nghiệm của bác sỹ thực hiện thủ thuật và vào các mốc giải phẫu của người bệnh nên thủ thuật này nhiều khi rất khó thực hiện hoặc không thành công nếu đặt mù (đặt theo kinh nghiệm và dựa trên các mốc giải phẫu). Sử dụng siêu âm để đặt catheter tĩnh mạch trung tâm đã làm tăng tỉ lệ thành công, rút ngắn thời gian làm thủ thuật và giảm tai biến. Hiện tại khoa HSCC/ BVQY7A đã triển khai đặt catheter tĩnh mạch trung tâm dưới hướng dẫn của siêu âm.

II. CHỈ ĐỊNH: khi có ≥ 2 trong số các chỉ định sau:

Dùng các thuốc vận mạch

Bồi phụ dịch, điện giải, máu số lượng lớn, tốc độ nhanh, trong sốc, suy tuần hoàn cấp, truyền các loại dịch có áp lực thấm thấu cao.

Đo và theo dõi áp lực tĩnh mạch trung tâm

Kích thích tim bằng một catheter điện cực khi có nhịp chậm

Lọc máu

Cần phải có đường truyền vào tĩnh mạch nhưng không thể thiết lập được đường truyền ngoại biên.

III.CHỐNG CHỈ ĐỊNH

Có huyết khối tĩnh mạch trung tâm tại vị trí đặt catheter cho đến tim.

Nhiễm trùng tại vị trí cần đặt ống thông.

Thận trọng với những trường hợp mà mốc giải phẫu bị biến dạng do chấn thương hoặc dị dạng từ trước.

Không có các chống chỉ định tuyệt đối trong các trường hợp rối loạn đông máu hoặc các  người bệnh có giảm tiểu cầu, mặc dù thường được sử dùng các kim nhỏ để đặt và/hoặc truyền các huyết tương tươi đông lạnh và/hoặc tiểu cầu cho các người bệnh này trước khi làm thủ thuật. Siêu âm là an toàn cho cả phụ nữ có thai và trẻ nhỏ.

IV. CHUẨN BỊ

1. Người thực hiện

01 Bác sĩ được đào tạo về thủ thuật này làm thủ thuật viên chính

01 Bác sỹ hoặc điều dưỡng phụ vô khuẩn

01 Điều dưỡng phụ hữu khuẩn

Khử khuẩn tay, đeo găng, mũ, áo choàng, khẩu trang vô khuẩn

Tùy vị trí đặt catheter mà thủ thuật viên chính đứng ở vị trí thuận lợi (Đứng ở trên đầu giường chếch phải khi đặt tĩnh mạch cảnh trong phải, chếch trái khi đặt tĩnh mạch cảnh trong trái hay ngang vai bên phải hoặc trái người bệnh khi đặt tĩnh mạch dưới đòn phải/ trái)

2. Phương tiện

Bộ catheter 1 nòng, 2 nòng, 3 nòng tùy vào nhu cầu sử dụng: 01 bộ

Máy siêu âm với đầu dò linear: 7,5-10Hz

Gói dụng cụ tiêu hao

Gói dụng cụ rửa tay, sát khuẩn

Bộ dụng cụ bảo hộ cá nhân

Bộ dụng cụ, thuốc thủ thuật

Bộ dụng cụ đặt catheter vô khuẩn

Gói dụng cụ, máy theo dõi

3. Người bệnh

Nếu người bệnh tỉnh: giải thích để người bệnh hiểu tránh sợ hãi và cùng hợp tác.

Nếu người bệnh hôn mê giải thích cho gia đình người bệnh về lợi ích và nguy cơ của thủ thuật.

Ký cam kết đồng ý thực hiện thủ thuật.

4. Nơi tiến hành: tại phòng có giường bệnh hồi sức cấp cứu đảm bảo tiêu chuẩn vô khuẩn hoặc phòng thủ thuật.

5. Hồ sơ bệnh án: ghi chỉ định đặt catheter 2 nòng, tình trạng người bệnh trước và sau thủ thuật, bản tường trình thủ thuât, theo dõi trong và sau thủ thuật về tai biến, biến chứng.

V. CÁC BƯỚC TIẾN HÀNH

 

Người bệnh đặt nằm ngửa, đầu thấp 10 độ so với chân, kê gối mỏng dưới vai, đầu nghiêng sang phía đối diện với bên chọc kim.

 

Để mặt người bệnh quay sang trái, dùng đầu dò siêu âm chưa vô khuẩn xác định vị trí tĩnh mạch cảnh trong (TMC). Có thể để đầu dò theo mặt cắt ngang (hình 1) hoặc mặt cắt dọc (hình 2). Mặt cắt ngang thường được ưa dùng hơn vì dễ xác định vị trí của tĩnh mạch, đặt ngang so với chiều của kim. Trên mặt cắt ngang sẽ thấy hình tĩnh mạch cảnh trong, động mạch cảnh và tuyến giáp. Đánh giá tình trạng của tĩnh mạch cảnh trong, đường kính khoảng 7 mm. Không được để hình ảnh tĩnh mạch và động mạch trùng lên nhau.Tránh để đầu nghiêng quá 30 độ vì dễ cắt ngang động mạch cảnh. Không ấn đầu dò quá mạnh sẽ làm xẹp tĩnh mạch. Không được chọc kim khi chưa thấy rõ cả tĩnh mạch, động mạch và tuyến giáp.

 

ình1: Mặt cắt ngang: 1. Tuyến giáp.     2. TM cảnh trong.     3. ĐM cảnh

    

Hình 2: Mặt cắt dọc

Hình 3: Hình A: tĩnh mạch cảnh (IJV), động mạch cảnh (CA).

Hình B:Tăng kích thước tĩnh mạch cảnh trong trong khi làm nghiệm pháp Valsava.

Nếu không xác định được tĩnh mạch cảnh trong, động mạch và tuyến giáp thì đặt Người bệnh ở tư thế đầu thấp chân cao hoặc làm nghiệm pháp Valsava để bộc lộ rõ tĩnh mạch cảnh trong (hình 3).

Sát khuẩn rộng vùng cổ bên đặt catheter. Đặt săng có lỗ lên vị trí chọc catheter

Chuẩn bị đầu dò vô khuẩn trước hoặc sau khi vô khuẩn người bệnh. Bôi gen vào đầu dò sau đó dùng túi ni lon (bao camera) vô khuẩn bọc ra ngoài đầu dò, không để có không khí ở giữa đầu dò và bao ni lon (hình 4).

Hình 4: Chuẩn bị đầu dò vô khuẩn

Chọc kim cách đầu dò siêu âm 1 cm, nên để đầu kim ở giữa đầu dò và chếch với góc 30-45 độ (hình 5). Khi kim xuyên qua da bạn nhìn thấy kim trên siêu âm. Nếu không nhìn thấy kim thì không nên tiếp tục đẩy kim vào sâu, mà điều chỉnh đầu dò hoặc nhẹ nhàng đưa đẩy đầu kim để nhìn thấy kim. Khi nhìn thấy đầu kim tiếp tục đẩy kim theo tín hiệu trên siêu âm, đảm bảo kim đã nằm trong lòng mạch và rút thấy máu đỏ sẫm trào ra đốc kim.

Hình 5: Vị trí chọc kim

Tháo bơm tiêm (đối với kim chữ I, giữ nguyên và luồn dây dẫn vào nhánh thứ 2 của kim chữ Y), luồn dây dẫn inox cho vào kim. Chú ý không luồn dây dẫn quá sâu sẽ vào buồng tim gây rối loạn nhịp. Rút kim, nong đường hầm vào tĩnh mạch bằng que nong. Rút que nong, luồn catheter theo dây dẫn (phương pháp Seldinger). Tay phải đưa catheter vào sâu chừng 10- 12 cm tính từ đầu catheter đến mép da là được, tay trái rút dây dẫn ra (cần tiến hành đồng thời, tay phải luồn catheter vào khoảng 1-1,5 cm tay trái rút dây dẫn ra cũng tương đương chiều dài đẩy vào của catheter, nếu đầy catheter vào dài >1,5cm dễ gây gập catheter). Chú ý để dây dẫn ra ngoài nòng của cathter từ 3-4 cm (để tránh tuột dây dẫn vào trong). Luồn catheter vào sâu chừng 10- 12 cm tính từ đầu catheter đến đốc kim là được. Có 2 nòng (đối với catheter 2 nòng), một nòng gần (proximal) và một nòng xa (distal). Mỗi nòng có một khóa, kiểm tra nòng nào thì mở khóa của nòng đó, dùng bơm tiêm hút máu của từng nòng một. Nối catheter với một chai dịch đẳng trương, mở khóa cho dịch chảy nhanh cho đến khi hết máu trong catheter. Sau đó hạ chai dịch kiểm tra lại xem thấy máu trào ngược lại catheter là được. Nhấc cao chai để dịch truyền chảy nhanh đẩy hết máu ở dây truyền rồi điều chỉnh dịch chảy theo tốc độ được chỉ định trong bệnh án. Nòng thứ hai dùng bơm tiêm hút máu ra kiểm tra, sau đó bơm lấp đầy nòng bằng nước muối sính lý và khóa lại nếu chưa sử dụng. Khâu cố định chân catheter bằng 3 mũi chỉ qua da theo hình túi. Băng kín chân catheter bằng opside vô khuẩn.

Hình 6: Dưới hướng dẫn của siêu âm kim catheter chọc đúng vào tĩnh mạch ở các vị trí khác nhau [1]. CA: là động mạch cảnh trong. IJV: là tĩnh mạch cảnh trong

VI.THEO DÕI

Theo dõi: thay băng sau 24 giờ sau đặt catheter hoặc khi thấy băng thấm máu, dịch, hoặc băng opside bị bong ra.

Theo dõi tình trạng chảy máu chỗ chọc, tràn khí màng phổi, nhiễm trùng tại chân catheter.

VII.XỬ TRÍ TAI BIẾN

Chọc vào động mạch: rút kim ra và băng ép 5 phút

Tràn khí, tràn dịch, tràn máu màng phổi: rút catheter, chọc hút dẫn lưu màng phổi nếu không đáp ứng phải mở màng phổi.

Nhiễm trùng chân catheter, nhiễm khuẩn huyết, rút catheter và cấy đầu catheter.

Dị ứng thuốc gây tê: xử trí theo thông tư 51

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Christopher A. Troianos, MD, Gregg S. Hartman (2011), ―Guidelines for Performing Ultrasound Guided VascularCannulation: Recommendations of the AmericanSociety of Echocardiography and the Society of Cardiovascular Anesthesiologists‖, (J Am Soc Echocardiogr 2011;24:1291-318.).

2. Rafael Ortega, M.D., Michael Song et al (2010),― Ultrasound-Guided Internal Jugular Vein Cannulation‖, N Engl J Med 2010;362:e57

3. Susanne Kost, Lauren W Averill, MD(2012), ― Ultrasound-guided vascular (venous) access ― This topic last updated: thg 5 23, 2012.

4.  Ultrasound guided central venous cannulation: an interactive tutorial‖, (2013), Univesity of california Davis medical center, Departement of emegnecy medicine.

5. Vũ Văn Đính và cộng sự (2007), ―Đặt ống thông tĩnh mạch cảnh trong theo đường Daily, Hồi sức cấp cứu toàn tập, NXB Y học, trang 565-568.

6. “Hướng dẫn quy trình kỹ thuật chuyên ngành Hồi sức- Cấp cứu và Chống độc ” BYT 2014


 

backtop