Polyp dạ dày là tổn thương lồi nhô lên so với bề mặt niêm mạc dạ dày. Polyp dạ dày thường được phát hiện tình cờ, gặp ở 2-3% bệnh nhân nội soi tiêu hóa trên, hiếm gây triệu chứng như chảy máu hoặc làm chậm tiêu. Tuy nhiên việc chẩn đoán và xử trí thích hợ

Polyp dạ dày là tổn thương lồi nhô lên so với bề mặt niêm mạc dạ dày. Polyp dạ dày thường được phát hiện tình cờ, gặp ở 2-3% bệnh nhân nội soi tiêu hóa trên, hiếm gây triệu chứng như chảy máu hoặc làm chậm tiêu. Tuy nhiên việc chẩn đoán và xử trí thích hợ

Polyp dạ dày là tổn thương lồi nhô lên so với bề mặt niêm mạc dạ dày. Polyp dạ dày thường được phát hiện tình cờ, gặp ở 2-3% bệnh nhân nội soi tiêu hóa trên, hiếm gây triệu chứng như chảy máu hoặc làm chậm tiêu. Tuy nhiên việc chẩn đoán và xử trí thích hợ

Polyp dạ dày là tổn thương lồi nhô lên so với bề mặt niêm mạc dạ dày. Polyp dạ dày thường được phát hiện tình cờ, gặp ở 2-3% bệnh nhân nội soi tiêu hóa trên, hiếm gây triệu chứng như chảy máu hoặc làm chậm tiêu. Tuy nhiên việc chẩn đoán và xử trí thích hợ

Polyp dạ dày là tổn thương lồi nhô lên so với bề mặt niêm mạc dạ dày. Polyp dạ dày thường được phát hiện tình cờ, gặp ở 2-3% bệnh nhân nội soi tiêu hóa trên, hiếm gây triệu chứng như chảy máu hoặc làm chậm tiêu. Tuy nhiên việc chẩn đoán và xử trí thích hợ
Polyp dạ dày là tổn thương lồi nhô lên so với bề mặt niêm mạc dạ dày. Polyp dạ dày thường được phát hiện tình cờ, gặp ở 2-3% bệnh nhân nội soi tiêu hóa trên, hiếm gây triệu chứng như chảy máu hoặc làm chậm tiêu. Tuy nhiên việc chẩn đoán và xử trí thích hợ
Menu
Trang chủ Kỹ thuật KHOA CÁN BỘ POLYP DẠ DÀY

POLYP DẠ DÀY

POLYP DẠ DÀY

Polyp dạ dày là tổn thương lồi nhô lên so với bề mặt niêm mạc dạ dày. Polyp dạ dày thường được phát hiện tình cờ, gặp ở 2-3% bệnh nhân nội soi tiêu hóa trên, hiếm gây triệu chứng như chảy máu hoặc làm chậm tiêu. Tuy nhiên việc chẩn đoán và xử trí thích hợp rất quan trọng vì một số polyp có nguy cơ ung thư.

1. Dịch tễ

Polyp tăng sản là loại chiếm đa số ở những khu vực có tỷ lệ nhiễm HP cao. Ngược lại ở các nước phương Tây, nơi có tỷ lệ nhiễm HP thấp hơn và thuốc ức chế bơm proton được sử dụng rộng rãi thì polyp tuyến phình vị chiếm đa số.

2. Xử trí polyp dạ dày

Ở những bệnh nhân có polyp dạ dày nhỏ, đơn độc, nên sinh thiết hoặc loại bỏ polyp để có chẩn đoán mô bệnh học. Các polyp tăng sản hoặc các polyp có kích thước > 1cm cần được cắt bỏ vì sinh thiết không loại bỏ được hết các ổ loạn sản độ cao hoặc ung thư dạ dày giai đoạn sớm. Những bệnh nhân có nhiều polyp thì polyp lớn nhất cần phải cắt bỏ và sinh thiết đại diện những polyp còn lại.

Niêm mạc trông bình thường ở vùng hang vị và thân vị cũng cần sinh thiết để loại trừ ổ loạn sản xuất hiện trên nền viêm teo niêm mạc dạ dày và nhiễm HP. Cần điều trị tiệt trừ HP nếu phát hiện có nhiễm HP.

Viêm teo dạ dày là một căn bệnh cần được phát hiện và điều trị trước khi gây polyp dạ dày

3. Một số loại polyp dạ dày

  • Polyp tuyến phình vị: chiếm tới 47% tổng số polyp dạ dày. Polyp tuyến phình vị có thể gặp dạng đơn độc hoặc nhiều polyp, không có cuống, chỉ xuất hiện ở phình vị và phần trên thân vị. Dùng thuốc ức chế bơm proton (PPI) làm tăng nguy cơ phát triển polyp tuyến phình vị, các polyp này ít có khả năng ác tính. Các polyp tuyến phình vị kết hợp với hội chứng đa polyp có thể có loạn sản nhưng hiếm khi tiến triển thành ác tính. Những polyp tuyến phình vị có kích thước >1cm, polyp loét trên bề mặt hoặc ở hang vị cần cắt bỏ. Những bệnh nhân có nhiều polyp (>20) hoặc polyp đơn độc ở phình vị to >1cm cần cân nhắc việc ngừng điều trị PPI.
  • Polyp tăng sản: là loại lành tính chiếm 28-75% tổng số polyp dạ dày. Cơ chế hình thành được cho là do tái tạo niêm mạc quá mức sau tổn thương viêm dạ dày do Helicobacter Pylori (HP), thiếu máu ác tính, gần ổ loét và trợt hoặc gần vị trí miệng nối vị tràng. Các polyp này thường lành tính nhưng có nguy cơ tiềm tàng trở thành ác tính. Polyp tăng sản > 5mm phải cắt bỏ triệt để. Nội soi dạ dày định kỳ 1-2 năm để theo dõi vì nguy cơ ung thư do có đồng thời viêm teo dạ dày mạn tính và các nguy cơ khác.
  • U tuyến dạ dày điển hình hình thành trên nền niêm mạc dạ dày viêm teo và có thể kết hợp với hội chứng đa polyp. Đa số u tuyến dạ dày không có triệu chứng. Polyp u tuyến gây triệu chứng thường là chảy máu hoặc hiếm khi là tắc nghẽn. Vì u tuyến dạ dày là tổn thương tiền ung thư nên khuyến cáo cần cắt bỏ tất cả u tuyến dạ dày nội soi hoặc phẫu thuật. Theo dõi bằng nội soi tiêu hóa trên 1 năm sau khi cắt polyp u tuyến. Tùy từng trường hợp cụ thể có nguy cơ ung thư cao cần tiếp tục theo dõi bằng nội soi.
  • U thần kinh nội tiết dạ dày có thể kết hợp với tăng gastrin máu (type 1 và 2) hoặc xuất hiện đơn độc (type 3). U thần kinh nội tiết type 1 và 2 có kích thước nhỏ hơn 1-2 cm được lựa chọn cắt bỏ bằng phương pháp nội soi trong khi type 3 có thể di căn ngay tại thời điểm cắt bỏ nên thường được điều trị bằng phẫu thuật cắt bán phần hoặc toàn bộ dạ dày kèm nạo vét hạch vùng.
  • Polyp xơ viêm rất hiếm gặp, chiếm tỷ lệ  0,1% trong số các loại polyp. Sau khi cắt bỏ polyp xơ viêm điển hình không tái phát và không cần theo dõi.

Trong nội soi dạ dày, bác sĩ Nội soi sẽ đưa một ống mềm có gắn camera vào miệng, xuống hầu họng, thực quản và kiểm tra bên trong dạ dày.

Đây là phương pháp thông dụng cho độ chính xác cao hiện nay để thăm khám, chẩn đoán các bệnh lý về dạ dày và polyp dạ dày như:

  • Chẩn đoán sớm các tổn thương dạ dày dù nhỏ cũng nhìn thấy được
  • Nhìn bao quát toàn bộ dạ dày, các vùng bên trong của dạ dày
  • Rối loạn vận động co thắt, xoắn
  • Viêm niêm mạc dạ dày teo đét hoặc phì đại
  • Loét dạ dày tá tràng
  • Các khối u dạ dày tá tràng (lành tính, ác tính, u mạch máu, ung thư...)
  • Polyp dạ dày
  • Tiến hành cắt bỏ polyp dạ dày trong quá trình nội soi
  • Kết hợp với sinh thiết, xét nghiệm giúp việc chẩn đoán chính xác hơn

_Trần Thị Thanh Vân_

backtop