Trượt đốt sống

Trượt đốt sống

Trượt đốt sống

Trượt đốt sống

Trượt đốt sống
Trượt đốt sống
Menu
Trang chủ Kỹ thuật B1-KHOA CHẤN THƯƠNG-CHỈNH HÌNH Trượt đốt sống

Trượt đốt sống

Trượt đốt sống

I. Thế nào là trượt đốt sống

 Trượt đốt sống lưng là tình trạng đốt sống trên trượt ra phía sau hoặc phía trước so với đốt sống dưới. Tình trạng này khiến người bệnh đau thắt lưng, đi đứng trở nên khó khăn, đau lan xuống một hoặc cả hai chân.

II. Nguyên nhân trượt đốt sống là gì

Theo Wiltse – Newman trượt đốt sống lưng được chia thành 6 nguyên nhân chính:

1. Trượt đốt sống lưng do bẩm sinh

2. Trượt đốt sống lưng do khuyết eo

3. Trượt đốt sống lưng do thoái hóa

4. Trượt đốt sống lưng do bệnh lý

5. Trượt đốt sống lưng do chấn thương

6. Trượt đốt sống lưng sau phẫu thuật.

III. Phân độ trượt đốt sống như thế nào?

Theo tác giả Meyerding, trượt đốt sống được chia thành 5 mức độ. Mức độ trượt được xác định bằng tỉ lệ dựa trên phim X quang quy ước ở tư thế nghiêng. Tỷ lệ trượt được tính bằng khoảng cách trượt với độ rộng của thân đốt sống trượt.

Độ I: trượt 0 - 25% thân đốt sống.

Độ II: trượt 26 - 50% thân đốt sống.

Độ III: trượt 51 - 75% thân đốt sống.

Độ IV: trượt 76 - 100% thân đốt sống.

Độ V: trượt hoàn toàn, đốt trên hoàn toàn rời khỏi bề mặt thân đốt dưới.

 

Mục đích của phân loại này nhằm xác định các yếu tố dùng để dự báo quá trình tiến triển của trượt đốt sống để lựa chọn các biện pháp điều trị phù hợp

Phân độ này chia nguyên nhân trượt đốt sống làm 2 loại:

  1. Bẩm sinh do bất thường về mặt giải phẫu
  2. Mắc phải do chấn thương, thoái hoá, bệnh lý

Triệu chứng nhận biết của trượt đốt sống là gì?

Trong giai đoạn đầu, thường bệnh nhân không có triệu chứng hoặc chỉ có đau lưng thoáng qua.

1. Giai đoạn đau thắt lưng: đau lưng nhiều, đau khi bệnh nhân đi, đứng lâu, cúi ngửa cột sống, sau đó đau lan xuống mông, đùi, cẳng chân và bàn chân, đôi khi kèm tê, đau tăng lên khi ho, hắt hơi. Đau tăng khi cột sống phải chịu lực như khi đứng, đi bộ, lao động...nhưng nằm nghỉ thì hết đau hoặc đau giảm hẳn. Bệnh nhân thay đổi tư thế từ ngồi sang đứng lên khó khăn. Đôi khi bệnh nhân cảm nhận được sự trượt của đốt sống khi cúi, ngửa.

2. Ở giai đoạn nặng, bệnh nhân thay đổi tư thế và dáng đi, co cứng cơ ở thắt lưng và sự căng cơ ở mặt trong đùi, đi hơi khom lưng về phía trước, có thể kèm theo vẹo cột sống sang bên. Tình trạng đau cột sống thắt lưng mạn tính từng đợt, đau theo cơn và các cơn đau ngày càng xuất hiện dày lên. Khi người bệnh sử dụng áo nẹp cột sống thì triệu chứng này giảm rõ rệt.

Khi khám ở tư thế đứng, bệnh nhân có các dấu hiệu cong vẹo cột sống hoặc khi ưỡn quá mức sẽ giúp bệnh nhân đỡ đau hơn. Đây là dấu hiệu đặc trưng, có ý nghĩa nhất để chẩn đoán bệnh. Dấu hiệu đau cách hồi (đau khi đi bộ, vì đau phải dừng lại, hết đau mới đi tiếp, đang đi vì đau lại phải nghỉ, hết đau lại đi) kết hợp với các biểu hiện tê bì, căng đau cả hai chân khi đi bộ. Triệu chứng này không xuất hiện khi bệnh nhân đi xe đạp. Đây là triệu chứng rất quan trọng giúp chẩn đoán phân biệt với bệnh thoát vị đĩa đệm.

Chẩn đoán trượt đốt sống như thế nào?

Để xác định có bị trượt đốt sống lưng hay không, bên cạnh việc quan sát và theo dõi các triệu chứng kể trên, để chẩn đoán chính xác bệnh sẽ phải tiến hành các phương pháp chấn đoán sau:

  • Chụp X-quang quy ước ở các tư thế: thẳng, nghiêng, cúi tối đa và ưỡn tối đa. Một số trường hợp có thể phải chụp thêm film chếch 3⁄4 (phải, trái). X quang quy ước giúp chẩn đoán chính xác vị trí, mức độ trượt đốt sống lưng.
  • Cắt lớp vi tính (CT Scan): là công cụ chẩn đoán rất hiệu quả để đánh giá về cấu trúc xương, xác định vị trí, mức độ trượt cũng như các tổn thương của eo, mấu khớp, hẹp ống sống… 
  • Cộng hưởng từ (MRI): đây là công cụ lý tưởng để đánh giá tổn thương về mô mềm và sự chèn ép thần kinh trong trượt đốt sống lưng. Trên phim cộng hưởng từ, bác sĩ có thể phát hiện các nguyên nhân gây chèn ép thần kinh: đĩa đệm thoát vị, các tổ chức xơ sẹo, dây chằng dày, hẹp lỗ ghép…

Các phương pháp điều trị bệnh

Điều trị nội khoa

Phần lớn bệnh nhân trượt đốt sống thắt lưng được điều trị nội khoa sẽ cải thiện rõ rệt các cơn đau. Đối với bệnh nhân tuổi thiếu niên, nằm nghỉ mặc áo cố định ngoài và hạn chế các hoạt động gây đau có thể cải thiện được các triệu chứng của bệnh. Với bệnh nhân là người trưởng thành, điều trị bảo tồn đốt sống thắt lưng như sau:

  • Cố định ngoài và hướng dẫn vận động.
  • Chỉ định nằm nghỉ trong các đợt đau cấp
  • Sử dụng thuốc chống viêm, giảm đau.
  • Điều trị vật lý trị liệu, phục hồi chức năng, tập thể dục tăng cường sức cơ lưng, đùi, bụng.
  • Giảm cân đối với người béo phì.

Phẫu thuật

Chỉ mổ với bệnh nhân bị trượt đốt sống thắt lưng trong các trường hợp sau:

  • Trượt đốt sống đã được điều trị bảo tồn ít nhất 6 tuần trước đây và thường sau 6 - 12 tháng điều trị bảo tồn mà không giảm, ảnh hưởng sinh hoạt và lao động.
  • Bệnh nhân đau nhiều, không đáp ứng với các biện pháp nghỉ ngơi và dùng thuốc.
  • Trượt đốt sống gây các biến chứng: liệt vận động một hoặc hai chân, teo cơ, rối loạn cơ vòng bàng quang (bí tiểu).
  • Trượt đốt sống nặng, tiến triển do khuyết eo đốt sống ở trẻ nhỏ.

BS CK1 Nguyễn Tín Thuật

backtop